Sự tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc từ 30 tỷ USD (1960) đến ngưỡng 1000 tỷ USD (2007)
“Kì tích sông Hàn”hay”Kỳ tích sông Hán”,”Hán Giang kí tích”là cụm từ đề cập tới thời kỳ tăng trưởng kinh tế sau chiến tranh do xuất khẩu mang lại, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh chóng, đạt được những thành tựu công nghệ to lớn, sự phát triển thần tốc về chất lượng giáo dục, mức sống và quá trình đô thị hóa, bùng nổ xây dựng cao ốc, tiến trình dân chủ hóa và toàn cầu hóa đã chuyển Hàn Quốc từ một quốc gia”vô vọng”trở thành 1 trong 4 con hổ châu Á (Cùng với Singapore, Hồng Kông và Đài Loan). Nhân tố quan trọng trong sự phát triển thần kì này chính là Park Chung Hee. Cụ thể hơn, cụm từ này ám chỉ sự phát triển kinh tế của Seoul, nơi có sông Hàn chảy qua, sau này thì nó được hiểu rộng ra là sự phát triển của cả Hàn Quốc. Cụm từ này bắt nguồn từ”Kì tích sông Rhine”, dùng để miêu tả sự hồi phục kinh tế của Tây Đức sau Thế chiến 2 nhờ Kế hoạch Marshall.”Kì tích sông Hàn”dùng để chỉ sự phát triển thần kì sau chiến tranh của Hàn Quốc và trở thành quốc gia kiểu mẫu của các nước đang phát triển ở châu Á.  Du học vừa học vừa làm tại Hàn Quốc như thế nào?

Park Chung Hee (1917 – 1979) là một nhà hoạt động chính trị người Hàn Quốc, từng là Thủ lĩnh Đảng Dân chủ Cộng hòa. Park Chung Hee sinh ngày 14/11/1917 ở Gumi, tỉnh Gyeongbuk, Hàn Quốc (Lúc đó là thuộc địa của Nhật Bản). Ông là con út của gia đình lưỡng ban nghèo có năm con trai và hai con gái. Thời niên thiếu, ông được nhận vào trường đào tạo giáo viên ở Daegu và sau khi nhận bằng tốt nghiệp về giảng dạy, ông được nhận làm giáo viên ở Mungyeong. Trong thời gian này, ông lấy bí danh tiếng Nhật là Takagi Masao. Theo diễn biến của cuộc chiến tranh Trung- Nhật lần 2, ông quyết định theo Học viện quân sự Changchun của Đế quốc Nhật. Với kết quả tốt nhất lớp, ông tốt nghiệp năm 1942 và được công nhận là một sỹ quan tài năng bởi người hướng dẫn của mình, người mà về sau đề nghị ông theo học Học viện quân sự Nhật Bản tại Nhật. Sau khi tốt nghiệp với vị trí thứ 3 lớp năm 1944, ông được chỉ định làm Trung úy của đạo quân tinh nhuệ Nhật Bản - Đạo quân Quan Đông - và phục vụ trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ 2. Park trở lại Hàn Quốc sau khi cuộc chiến kết thúc và ghi danh vào học viện quân sự Hàn Quốc. Ông tốt nghiệp năm 1946 và đạt được danh hiệu Đại uý, trở thành sỹ quan của Sở mật vụ dưới sự kiểm soát của chính quyền Mỹ ở Hàn Quốc. Chính quyền non trẻ mới thành lập lúc đó, dưới sự lãnh dạo của Syngman Rhee, đã bắt giữ Park vào tháng 11/1948 với tội danh lãnh đạo mầm mống Cộng sản. Ông bị kết án tử hình bởi Tòa án quân sự, nhưng bản án của ông đã đc Rhee giảm xuống bởi sự tranh cãi của những sỹ quan cấp cao trong quân đội Hàn Quốc. Điều kiện để du học Hàn Quốc gồm những gì?
Nhà xanh là dinh Tổng thống của Đại Hàn dân quốc, nằm tại quận Jongno, Seoul. Vụ ám sát Park Chung Hee (vụ 26/10) xảy ra tại tòa nhà của Cục tình báo trung ương (KCIA) trong Nhà Xanh. Park Chung Hee bị sát bởi chính giám đốc mật vụ của mình-Trung tướng Kim Jaegyu

Sau khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Park Chung Hee trở lại phục vụ với cấp Thiếu tá cho quân đội Hàn Quốc. Ông đã được thăng cấp lên Trung tá vào tháng 9/1950 và Đại tá vào tháng 4/1951. Với vai trò Đại tá, ông đã chỉ huy quân đoàn Pháo Binh II và III trong suốt cuộc chiến. Park đã trở thành Phó Giám Đốc của Cục tình báo quân đội vào năm 1952. Trước khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1953, Park đã trở thành Thiếu tướng. Sau khi Hiệp định đình chiến giữa hai miền được kí kết, ông đã được lựa chọn cho khóa đào tạo sáu tháng ở Fort Sill, Mỹ. Sau khi trở về, Park thăng tiến nhanh chóng trong sự nghiệp quân sự. Ông chỉ huy Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 trước khi trở thành Trung tướng năm 1958. Park Chung Hee đc chỉ định là Tham mưu trưởng quân đội Cộng Hòa Hàn Quốc và trở thành người đứng đầu Quân khu 1 và Quân khu 6, quân đội Hàn Quốc, được giao nhiệm vụ cao cả là bảo vệ Seoul. Năm 1960, Park trở thành Trưởng hội đồng tham mưu quân đội và Phó tư lệnh của quân đội Hàn Quốc. Ông là người cầm đầu một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16/5/1961, lên làm lãnh đạo của Ủy ban Cách mạng (tiền thân của Hội đồng Tối cao Tái thiết quốc gia sau này). Ông trở thành vị Tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong bốn nhiệm kỳ: Từ ngày 17/12/1963 đến khi bị ám sát vào ngày 26/10/1979 tại Nhà Xanh. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ ba trong lịch sử Hàn Quốc. Tên tuổi ông gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Mặt khác, trong 18 năm cầm quyền ông đã thực hiện chính sách độc tài, vi phạm nhân quyền, trấn áp những người theo đường lối Cộng sản và cả những người bất đồng chính kiến và cho gián điệp theo dõi các trường học. Năm 1999, ông được tạp chí Times bình chọn là một trong mười”Người châu Á của thế kỷ”.

Sưu tầm và biên tập: Du học Hàn Quốc HALO

Kì tích Sông Hàn và Park Chung Hee


Sự tăng trưởng của kinh tế Hàn Quốc từ 30 tỷ USD (1960) đến ngưỡng 1000 tỷ USD (2007)
“Kì tích sông Hàn”hay”Kỳ tích sông Hán”,”Hán Giang kí tích”là cụm từ đề cập tới thời kỳ tăng trưởng kinh tế sau chiến tranh do xuất khẩu mang lại, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh chóng, đạt được những thành tựu công nghệ to lớn, sự phát triển thần tốc về chất lượng giáo dục, mức sống và quá trình đô thị hóa, bùng nổ xây dựng cao ốc, tiến trình dân chủ hóa và toàn cầu hóa đã chuyển Hàn Quốc từ một quốc gia”vô vọng”trở thành 1 trong 4 con hổ châu Á (Cùng với Singapore, Hồng Kông và Đài Loan). Nhân tố quan trọng trong sự phát triển thần kì này chính là Park Chung Hee. Cụ thể hơn, cụm từ này ám chỉ sự phát triển kinh tế của Seoul, nơi có sông Hàn chảy qua, sau này thì nó được hiểu rộng ra là sự phát triển của cả Hàn Quốc. Cụm từ này bắt nguồn từ”Kì tích sông Rhine”, dùng để miêu tả sự hồi phục kinh tế của Tây Đức sau Thế chiến 2 nhờ Kế hoạch Marshall.”Kì tích sông Hàn”dùng để chỉ sự phát triển thần kì sau chiến tranh của Hàn Quốc và trở thành quốc gia kiểu mẫu của các nước đang phát triển ở châu Á.  Du học vừa học vừa làm tại Hàn Quốc như thế nào?

Park Chung Hee (1917 – 1979) là một nhà hoạt động chính trị người Hàn Quốc, từng là Thủ lĩnh Đảng Dân chủ Cộng hòa. Park Chung Hee sinh ngày 14/11/1917 ở Gumi, tỉnh Gyeongbuk, Hàn Quốc (Lúc đó là thuộc địa của Nhật Bản). Ông là con út của gia đình lưỡng ban nghèo có năm con trai và hai con gái. Thời niên thiếu, ông được nhận vào trường đào tạo giáo viên ở Daegu và sau khi nhận bằng tốt nghiệp về giảng dạy, ông được nhận làm giáo viên ở Mungyeong. Trong thời gian này, ông lấy bí danh tiếng Nhật là Takagi Masao. Theo diễn biến của cuộc chiến tranh Trung- Nhật lần 2, ông quyết định theo Học viện quân sự Changchun của Đế quốc Nhật. Với kết quả tốt nhất lớp, ông tốt nghiệp năm 1942 và được công nhận là một sỹ quan tài năng bởi người hướng dẫn của mình, người mà về sau đề nghị ông theo học Học viện quân sự Nhật Bản tại Nhật. Sau khi tốt nghiệp với vị trí thứ 3 lớp năm 1944, ông được chỉ định làm Trung úy của đạo quân tinh nhuệ Nhật Bản - Đạo quân Quan Đông - và phục vụ trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ 2. Park trở lại Hàn Quốc sau khi cuộc chiến kết thúc và ghi danh vào học viện quân sự Hàn Quốc. Ông tốt nghiệp năm 1946 và đạt được danh hiệu Đại uý, trở thành sỹ quan của Sở mật vụ dưới sự kiểm soát của chính quyền Mỹ ở Hàn Quốc. Chính quyền non trẻ mới thành lập lúc đó, dưới sự lãnh dạo của Syngman Rhee, đã bắt giữ Park vào tháng 11/1948 với tội danh lãnh đạo mầm mống Cộng sản. Ông bị kết án tử hình bởi Tòa án quân sự, nhưng bản án của ông đã đc Rhee giảm xuống bởi sự tranh cãi của những sỹ quan cấp cao trong quân đội Hàn Quốc. Điều kiện để du học Hàn Quốc gồm những gì?
Nhà xanh là dinh Tổng thống của Đại Hàn dân quốc, nằm tại quận Jongno, Seoul. Vụ ám sát Park Chung Hee (vụ 26/10) xảy ra tại tòa nhà của Cục tình báo trung ương (KCIA) trong Nhà Xanh. Park Chung Hee bị sát bởi chính giám đốc mật vụ của mình-Trung tướng Kim Jaegyu

Sau khi cuộc Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Park Chung Hee trở lại phục vụ với cấp Thiếu tá cho quân đội Hàn Quốc. Ông đã được thăng cấp lên Trung tá vào tháng 9/1950 và Đại tá vào tháng 4/1951. Với vai trò Đại tá, ông đã chỉ huy quân đoàn Pháo Binh II và III trong suốt cuộc chiến. Park đã trở thành Phó Giám Đốc của Cục tình báo quân đội vào năm 1952. Trước khi cuộc chiến kết thúc vào năm 1953, Park đã trở thành Thiếu tướng. Sau khi Hiệp định đình chiến giữa hai miền được kí kết, ông đã được lựa chọn cho khóa đào tạo sáu tháng ở Fort Sill, Mỹ. Sau khi trở về, Park thăng tiến nhanh chóng trong sự nghiệp quân sự. Ông chỉ huy Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7 trước khi trở thành Trung tướng năm 1958. Park Chung Hee đc chỉ định là Tham mưu trưởng quân đội Cộng Hòa Hàn Quốc và trở thành người đứng đầu Quân khu 1 và Quân khu 6, quân đội Hàn Quốc, được giao nhiệm vụ cao cả là bảo vệ Seoul. Năm 1960, Park trở thành Trưởng hội đồng tham mưu quân đội và Phó tư lệnh của quân đội Hàn Quốc. Ông là người cầm đầu một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16/5/1961, lên làm lãnh đạo của Ủy ban Cách mạng (tiền thân của Hội đồng Tối cao Tái thiết quốc gia sau này). Ông trở thành vị Tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong bốn nhiệm kỳ: Từ ngày 17/12/1963 đến khi bị ám sát vào ngày 26/10/1979 tại Nhà Xanh. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ ba trong lịch sử Hàn Quốc. Tên tuổi ông gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Mặt khác, trong 18 năm cầm quyền ông đã thực hiện chính sách độc tài, vi phạm nhân quyền, trấn áp những người theo đường lối Cộng sản và cả những người bất đồng chính kiến và cho gián điệp theo dõi các trường học. Năm 1999, ông được tạp chí Times bình chọn là một trong mười”Người châu Á của thế kỷ”.

Sưu tầm và biên tập: Du học Hàn Quốc HALO
Đọc thêm..
Một đặc điểm dễ nhận thấy nhất đó là cả áo dài và hanbok đều là trang phục truyền thống của hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc. Áo dài va hanbok là quốc phục, biểu trưng cho quốc hồn, quốc tuý của hai quốc gia này với một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Vậy chúng hãy cùng xem áo dài và hanbok có điểm tương đồng gì đáng chú ý?

Nhắc đến áo dài và hanbok người ta nhớ đến ngay hai loại trang phục nổi tiếng gắn liền với hình ảnh của người phụ nữ. Vẫn có áo dài và hanbok dành cho nam giới nhưng thật sự áo dài và hanbok chủ yếu tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ. Và trong tiềm thức của đại đa số mọi người đây là trang phục của phái đẹp. Cách làm kim chi Hàn Quốc cực ngon tại nhà.
  
Nếu xét về khía cạnh cụ thể, chúng ta sẽ thấy áo dài và hanbok có nhiều điểm giống nhau, ví dụ như: phong phú về kiểu dáng, thể loại; đa dạng về màu sắc. Tuy vậy màu sắc trong cả áo dài và hanbok đều được lựa chọn rất kĩ càng vì nó không chỉ phù hợp với tổng thể chiếc áo mà còn phù hợp với độ tuổi, tính cách của người mặc.

Một điểm tương đồng nữa đó là trên thực tế hiện nay cả áo dài và hanbok đều không giữ được vẻ đẹp truyền thống vốn có của nó. Hay nói cách khác, chúng đang được thương mại hoá, được cách tân một cách hơi”quá tay”và”lạm dụng quá đáng”. Thiết kế thời trang đành rằng vẫn cần sáng tạo, cách tân, đột phá thậm chí là lập dị nhưng chỉ có thể đem lên trên sàn catwalk được chứ không thể áp dụng với những loại trang phục đã được khẳng định giá trị truyền thống của nó qua năm tháng. Đúng là đã đến lúc chúng ta cần phải trả lại bản sắc, trả lại vẻ đẹp vốn có của những trang phục truyền thống.

Xét trên phương diện lịch sử, cả áo dài Việt Nam và Hanbok Hàn Quốc đều có một quá trình hình thành và phát triển lâu đời. Từ lúc xuất hiện cho đến lúc trở thành quốc phục cho một đất nước như hiện nay, cả Áo dài và Hanbok đều đã phải trải qua một quá trình đấu tranh quyết liệt để có thể chống lại sự du nhập hay Tây hóa của nhiều loại trang phục. Hanbok và Áo dài đều gắn liền với lịch sử mỗi quốc gia. Dựa vào những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể biết được Việt Nam và Hàn Quốc – hai quốc gia riêng biệt lại có điểm tương đồng trong trang phục đến thế. Những nét đẹp mà tạo hoá ban tặng cho áo dài và hanbok tuy đến nay đã được lội xác gọt vỏ nhiều lần nhưng những gì là quốc hồn quốc tuý, là tinh hoa dân tộc luôn được trân trọng và nâng niu.

Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện, chúng ta cũng không khó để tìm ra những điểm khác biệt giữa áo dài và Hanbok, từ quá trình hình thành và phát triển đến những đặc điểm trang phục.

Nếu xét về thời gian ra đời, áo dài xuất hiện trước Hanbok một quãng thời gian không nhỏ. Xét về cấu tạo thì Hanbok tương đối phức tạp so với áo dài, lượng phụ kiện đi kèm cũng nhiều hơn; cách mặc Hanbok cũng cần phải chú ý hơn khi mặc áo dài. Bởi thế, giá thành và yêu cầu bảo quản Hanbok cũng cao hơn so với áo dài. Nhưng ngược lại, dù cả Hanbok và áo dài cùng được ưa chuộng và là ưu tiên hàng đầu trong các lễ hội truyền thống của hai đất nước, nhưng xét trên quy mô của một dân tộc thì áo dài lại phổ biến hơn. Trên đường phố, bạn có thể dễ dàng gặp những cô nữ sinh trong bộ áo dài trắng thướt tha, các cô giáo thanh lịch trên giảng đường, hay cả những người lớn tuổi trong những ngày lễ hội quan trọng nhưng ở Hàn Quốc, bạn sẽ không thể nào tìm được một lớp học mà tất cả học sinh đang mặc Hanbok. Áo dài được người Việt Nam chọn từ việc học, việc chơi rồi

đến cả những khoảnh khắc quan trọng như lễ tốt nghiệp, lễ đính hôn, lễ cưới... Trong những sự kiện quan trọng như vậy, việc thiếu đi tà áo dài dường như đã làm giảm bớt phần
ý  nghĩa quan trọng của ngày đặc biệt đó. Tự học tiếng Hàn cơ bản tại nhà nhanh nhất và hiệu quả nhất.

  Hàn Quốc, mặc dù trong những dịp lễ tết hay những sự kiện quan trọng như lễ cưới, lễ thôi nôi,... Hanbok là một trang phục không thể thiếu nhưng vì những đặc điểm cấu tạo riêng biệt mà nó không được sử dụng nhiều trong những hoạt động thường ngày như Áo dài ở Việt Nam.

Hàn Quốc và Việt Nam, hai quốc gia, hai dân tộc khác nhau, với những quan điểm và suy nghĩ khác nhau trên nhiều phương diện, đặc biệt là về trang phục; rất khó để có thể đem ra so sánh, đối chiếu. Tuy nhiên, xét trên một mức độ nào đó, có thể thấy, ngoài những nét đặc trưng riêng biệt, tiêu biểu cho quốc hồn, quốc túy của mỗi đất nước thì giữa Hanbok và Áo dài đã có những điểm tương đồng đáng chú ý. Để giải thích cho sự tương đồng ấy, có thể tìm về với lịch sử xa xưa, khi mà cả Hàn Quốc và Việt Nam, đều là những những nước phương Đông, với nền văn hóa đã từng bị ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa; bởi thế những quan niệm tương đồng cũng là điều tất yếu. Nhưng chính bởi đặc trưng về đất nước và con người mỗi quốc gia một khác, qua quá trình, mới có thể tạo nên áo dài và Hanbok như ngày hôm nay - niềm tự hào lớn của Việt Nam và Hàn Quốc.

Hanbok và Áo dài – sự giao thoa trong nền văn hóa Việt Hàn

Một đặc điểm dễ nhận thấy nhất đó là cả áo dài và hanbok đều là trang phục truyền thống của hai quốc gia Việt Nam và Hàn Quốc. Áo dài va hanbok là quốc phục, biểu trưng cho quốc hồn, quốc tuý của hai quốc gia này với một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Vậy chúng hãy cùng xem áo dài và hanbok có điểm tương đồng gì đáng chú ý?

Nhắc đến áo dài và hanbok người ta nhớ đến ngay hai loại trang phục nổi tiếng gắn liền với hình ảnh của người phụ nữ. Vẫn có áo dài và hanbok dành cho nam giới nhưng thật sự áo dài và hanbok chủ yếu tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ. Và trong tiềm thức của đại đa số mọi người đây là trang phục của phái đẹp. Cách làm kim chi Hàn Quốc cực ngon tại nhà.
  
Nếu xét về khía cạnh cụ thể, chúng ta sẽ thấy áo dài và hanbok có nhiều điểm giống nhau, ví dụ như: phong phú về kiểu dáng, thể loại; đa dạng về màu sắc. Tuy vậy màu sắc trong cả áo dài và hanbok đều được lựa chọn rất kĩ càng vì nó không chỉ phù hợp với tổng thể chiếc áo mà còn phù hợp với độ tuổi, tính cách của người mặc.

Một điểm tương đồng nữa đó là trên thực tế hiện nay cả áo dài và hanbok đều không giữ được vẻ đẹp truyền thống vốn có của nó. Hay nói cách khác, chúng đang được thương mại hoá, được cách tân một cách hơi”quá tay”và”lạm dụng quá đáng”. Thiết kế thời trang đành rằng vẫn cần sáng tạo, cách tân, đột phá thậm chí là lập dị nhưng chỉ có thể đem lên trên sàn catwalk được chứ không thể áp dụng với những loại trang phục đã được khẳng định giá trị truyền thống của nó qua năm tháng. Đúng là đã đến lúc chúng ta cần phải trả lại bản sắc, trả lại vẻ đẹp vốn có của những trang phục truyền thống.

Xét trên phương diện lịch sử, cả áo dài Việt Nam và Hanbok Hàn Quốc đều có một quá trình hình thành và phát triển lâu đời. Từ lúc xuất hiện cho đến lúc trở thành quốc phục cho một đất nước như hiện nay, cả Áo dài và Hanbok đều đã phải trải qua một quá trình đấu tranh quyết liệt để có thể chống lại sự du nhập hay Tây hóa của nhiều loại trang phục. Hanbok và Áo dài đều gắn liền với lịch sử mỗi quốc gia. Dựa vào những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể biết được Việt Nam và Hàn Quốc – hai quốc gia riêng biệt lại có điểm tương đồng trong trang phục đến thế. Những nét đẹp mà tạo hoá ban tặng cho áo dài và hanbok tuy đến nay đã được lội xác gọt vỏ nhiều lần nhưng những gì là quốc hồn quốc tuý, là tinh hoa dân tộc luôn được trân trọng và nâng niu.

Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện, chúng ta cũng không khó để tìm ra những điểm khác biệt giữa áo dài và Hanbok, từ quá trình hình thành và phát triển đến những đặc điểm trang phục.

Nếu xét về thời gian ra đời, áo dài xuất hiện trước Hanbok một quãng thời gian không nhỏ. Xét về cấu tạo thì Hanbok tương đối phức tạp so với áo dài, lượng phụ kiện đi kèm cũng nhiều hơn; cách mặc Hanbok cũng cần phải chú ý hơn khi mặc áo dài. Bởi thế, giá thành và yêu cầu bảo quản Hanbok cũng cao hơn so với áo dài. Nhưng ngược lại, dù cả Hanbok và áo dài cùng được ưa chuộng và là ưu tiên hàng đầu trong các lễ hội truyền thống của hai đất nước, nhưng xét trên quy mô của một dân tộc thì áo dài lại phổ biến hơn. Trên đường phố, bạn có thể dễ dàng gặp những cô nữ sinh trong bộ áo dài trắng thướt tha, các cô giáo thanh lịch trên giảng đường, hay cả những người lớn tuổi trong những ngày lễ hội quan trọng nhưng ở Hàn Quốc, bạn sẽ không thể nào tìm được một lớp học mà tất cả học sinh đang mặc Hanbok. Áo dài được người Việt Nam chọn từ việc học, việc chơi rồi

đến cả những khoảnh khắc quan trọng như lễ tốt nghiệp, lễ đính hôn, lễ cưới... Trong những sự kiện quan trọng như vậy, việc thiếu đi tà áo dài dường như đã làm giảm bớt phần
ý  nghĩa quan trọng của ngày đặc biệt đó. Tự học tiếng Hàn cơ bản tại nhà nhanh nhất và hiệu quả nhất.

  Hàn Quốc, mặc dù trong những dịp lễ tết hay những sự kiện quan trọng như lễ cưới, lễ thôi nôi,... Hanbok là một trang phục không thể thiếu nhưng vì những đặc điểm cấu tạo riêng biệt mà nó không được sử dụng nhiều trong những hoạt động thường ngày như Áo dài ở Việt Nam.

Hàn Quốc và Việt Nam, hai quốc gia, hai dân tộc khác nhau, với những quan điểm và suy nghĩ khác nhau trên nhiều phương diện, đặc biệt là về trang phục; rất khó để có thể đem ra so sánh, đối chiếu. Tuy nhiên, xét trên một mức độ nào đó, có thể thấy, ngoài những nét đặc trưng riêng biệt, tiêu biểu cho quốc hồn, quốc túy của mỗi đất nước thì giữa Hanbok và Áo dài đã có những điểm tương đồng đáng chú ý. Để giải thích cho sự tương đồng ấy, có thể tìm về với lịch sử xa xưa, khi mà cả Hàn Quốc và Việt Nam, đều là những những nước phương Đông, với nền văn hóa đã từng bị ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa; bởi thế những quan niệm tương đồng cũng là điều tất yếu. Nhưng chính bởi đặc trưng về đất nước và con người mỗi quốc gia một khác, qua quá trình, mới có thể tạo nên áo dài và Hanbok như ngày hôm nay - niềm tự hào lớn của Việt Nam và Hàn Quốc.
Đọc thêm..

Arirang là điệu hát tiêu biểu của đất nước Hàn Quốc, là một trong số ít những bài dân ca mà người Hàn Quốc- từ trẻ em tới người già, từ người Hàn trong nước đến Hàn kiều đều hát được. Đi tới bất kỳ nơi nào có người Hàn sinh sống thì ở đó đều vang vọng lên lời ca Arirang. Có thể nói, dân ca Arirang là một trong những dấu ấn văn hóa quan trọng nhất của Hàn Quốc trong suy nghĩ của người nước ngoài. Khi muốn giới thiệu nét văn hóa nào đó ra thế giới, thứ đầu tiên người Hàn nghĩ đến chính là Arirang. Người Hàn Quốc không những coi Arirang như bài hát đại diện cho dân tộc mình, mà còn như bài Quốc ca thứ hai của đất nước- một bài hát buồn về sự chia ly và mất mát trong tình yêu. Cách làm kimchi Hàn Quốc cực ngon tại nhà.

Arirang là một biểu tượng quốc gia không chỉ của quá khứ xa xôi mà còn là lịch sử hiện đại đầy xáo động của Hàn Quốc. Bài hát này được coi là một biểu tượng cho sự đấu tranh giành độc lập chống lại Nhật Bản của Hàn Quốc và mối liên hệ của bài hát này vẫn còn lưu lại qua suốt những thập kỷ chia ly và nội chiến. Arirang đã phản ánh quá trình lịch sử hiện đại của dân tộc và là sợi dây liên kết mọi tâm hồn Hàn, dù chính kiến không đồng nhất. Tại liên hoan Arirang lần thứ nhất ở Seoul, Arirang là bài hát hướng tới sự thống nhất của bán đảo Triều Tiên. Điệu dân ca ấy đã được hát lên ở Bình Nhưỡng do đoàn nghệ thuật Seoul biểu diễn. Theo như phó Chủ tịch Ủy ban xúc tiến toàn cầu hóa ArirangLee Si-hwa cho rằng: “… Theo thời gian, Arirang còn ảnh hưởng đến cả văn hóa đại chúng cũng như văn hóa nghệ thuật mang tính sáng tạo. Trong các sự kiện cần đến sự cổ vũ như World Cup hay Olympic, dù là người nhà, hàng xóm hay kiều bào, hễ gặp nhau là người Hàn lại cùng hát Arirang”.



Ảnh hưởng đến tinh thần của người dân Hàn Quốc

Nội dung của Arirang là toàn bộ đời sống tâm hồn người dân Hàn Quốc

Trong nhịp sống hối hả, giữa những bộn bề công việc thì việc tìm cho mình một nguồn cảm hứng để cân bằng nhịp sống là điều không hề dễ dàng. Bởi vậy, khi điệu hát dân ca Arirang chứa đựng bao tình yêu, hạnh phúc, bất hạnh, nỗi khổ đau, những nhọc nhằn vất vả, sự không bằng lòng về cuộc sống hiện tại, lời than thân, trách móc, hờn giận…ra đời thì nó được coi như một nơi lý tưởng để trút bầu tâm sự. Phải chăng vì thế mà từ ngữ của lời ca Arirang thường buồn rầu, đa cảm, có lúc đến mức thảm thương, nhịp điệu khoan thai, thậm chí rất chậm. Nội dung Arirang có gì đó giống với những vang động sâu thẳm nhất từ trái tim Hàn Quốc: sự giận dữ và nỗi đau đớn. Người Hàn Quốc đã cố gắng giải quyết nỗi xúc động tinh thần của họ thông qua lối đi của thời gian hơn là tìm cách giải toả căng thẳng ngay lập tức. Phương pháp tự học tiếng Hàn nhanh và hiệu quả.
Lời lẽ của Arirang thường là sự thú nhận những tình cảm thật của tình yêu, cũng như sự tiếc nuối của chia l y, những tình cảm nồng nàn nhưng rất đỗi dịu dàng. Đó là nỗi nhớ trong xa cách:

Arirang là bức tranh chân thực về một cuộc sống vất vả, khó khăn của con người


Trước hết, đó là nghề sông nước của những chàng trai vùng Jeongseon đi đốn gỗ, thả bè xuôi về Seoul. Điệu dân ca Arirang đã theo họ suốt trong quá trình lao động. Điều kiện làm việc tương đối khắc nghiệt và hiểm trở, bốn bề là núi cao và rừng rậm. Theo như Lee Joong Hwan- nhà địa lý học sống vào Trung kỳ triều đại Joseon, đã viết về vị trí của Jeongseon trong sách Taekriji: “Dù đã đi bộ 4 ngày trong rừng mà vẫn không trông thấy trời và biển đâu cả". Đối với những người luôn phải vất vả vỡ hoang những dốc núi hiểm trở và sống một cuộc đời nghèo khó thì Arirang chính là thú tiêu khiển tốt nhất giúp họ quên đi những lo lắng, mệt mỏi hàng ngày. Arirang được cất lên ngay khi làm, bởi thế mà nhịp điệu của Jeongseon Arirang mang đậm đặc trưng của con người và cách sống của họ ở vùng sơn cước. Ông Jin Yong Seon, Viện trưởng Viện nghiên cứu Jeongseon Arirang nói: “Những câu hát bắt nguồn từ tỉnh Gangwon chủ yếu là những giai điệu thuộc gam nguyên. Những giai điệu đó bắt nguồn từ vùng đất này, gắn bó và hòa hợp với môi trường nơi đây.”Không giống với những điệu Arirang khác, lời bài hát Jeongseon Arirang lại ở thể bị động: “Arirang Arirang Arariyo… Hãy cho tôi vượt đèo Arirang …”bởi một lẽ dù họ đã hết sức cố gắng để vượt qua những chông gai nhưng cuộc sống đầy khó khăn và ngăn cách với thế giới bên ngoài đã không cho phép họ. Vì thế, bây giờ, Arirang đối với người Jeongseon là âm nhạc, là điệu hát, nhưng trước đây nó chính là tiếng nói của họ. Arirang đã là một phần cuộc sống của những con người thời xưa.

Xem chi tiết tại trang web:  http://duhochanquochalo.com/

Ảnh hưởng của Arirang tới văn hóa và đời sống người Hàn Quốc


Arirang là điệu hát tiêu biểu của đất nước Hàn Quốc, là một trong số ít những bài dân ca mà người Hàn Quốc- từ trẻ em tới người già, từ người Hàn trong nước đến Hàn kiều đều hát được. Đi tới bất kỳ nơi nào có người Hàn sinh sống thì ở đó đều vang vọng lên lời ca Arirang. Có thể nói, dân ca Arirang là một trong những dấu ấn văn hóa quan trọng nhất của Hàn Quốc trong suy nghĩ của người nước ngoài. Khi muốn giới thiệu nét văn hóa nào đó ra thế giới, thứ đầu tiên người Hàn nghĩ đến chính là Arirang. Người Hàn Quốc không những coi Arirang như bài hát đại diện cho dân tộc mình, mà còn như bài Quốc ca thứ hai của đất nước- một bài hát buồn về sự chia ly và mất mát trong tình yêu. Cách làm kimchi Hàn Quốc cực ngon tại nhà.

Arirang là một biểu tượng quốc gia không chỉ của quá khứ xa xôi mà còn là lịch sử hiện đại đầy xáo động của Hàn Quốc. Bài hát này được coi là một biểu tượng cho sự đấu tranh giành độc lập chống lại Nhật Bản của Hàn Quốc và mối liên hệ của bài hát này vẫn còn lưu lại qua suốt những thập kỷ chia ly và nội chiến. Arirang đã phản ánh quá trình lịch sử hiện đại của dân tộc và là sợi dây liên kết mọi tâm hồn Hàn, dù chính kiến không đồng nhất. Tại liên hoan Arirang lần thứ nhất ở Seoul, Arirang là bài hát hướng tới sự thống nhất của bán đảo Triều Tiên. Điệu dân ca ấy đã được hát lên ở Bình Nhưỡng do đoàn nghệ thuật Seoul biểu diễn. Theo như phó Chủ tịch Ủy ban xúc tiến toàn cầu hóa ArirangLee Si-hwa cho rằng: “… Theo thời gian, Arirang còn ảnh hưởng đến cả văn hóa đại chúng cũng như văn hóa nghệ thuật mang tính sáng tạo. Trong các sự kiện cần đến sự cổ vũ như World Cup hay Olympic, dù là người nhà, hàng xóm hay kiều bào, hễ gặp nhau là người Hàn lại cùng hát Arirang”.



Ảnh hưởng đến tinh thần của người dân Hàn Quốc

Nội dung của Arirang là toàn bộ đời sống tâm hồn người dân Hàn Quốc

Trong nhịp sống hối hả, giữa những bộn bề công việc thì việc tìm cho mình một nguồn cảm hứng để cân bằng nhịp sống là điều không hề dễ dàng. Bởi vậy, khi điệu hát dân ca Arirang chứa đựng bao tình yêu, hạnh phúc, bất hạnh, nỗi khổ đau, những nhọc nhằn vất vả, sự không bằng lòng về cuộc sống hiện tại, lời than thân, trách móc, hờn giận…ra đời thì nó được coi như một nơi lý tưởng để trút bầu tâm sự. Phải chăng vì thế mà từ ngữ của lời ca Arirang thường buồn rầu, đa cảm, có lúc đến mức thảm thương, nhịp điệu khoan thai, thậm chí rất chậm. Nội dung Arirang có gì đó giống với những vang động sâu thẳm nhất từ trái tim Hàn Quốc: sự giận dữ và nỗi đau đớn. Người Hàn Quốc đã cố gắng giải quyết nỗi xúc động tinh thần của họ thông qua lối đi của thời gian hơn là tìm cách giải toả căng thẳng ngay lập tức. Phương pháp tự học tiếng Hàn nhanh và hiệu quả.
Lời lẽ của Arirang thường là sự thú nhận những tình cảm thật của tình yêu, cũng như sự tiếc nuối của chia l y, những tình cảm nồng nàn nhưng rất đỗi dịu dàng. Đó là nỗi nhớ trong xa cách:

Arirang là bức tranh chân thực về một cuộc sống vất vả, khó khăn của con người


Trước hết, đó là nghề sông nước của những chàng trai vùng Jeongseon đi đốn gỗ, thả bè xuôi về Seoul. Điệu dân ca Arirang đã theo họ suốt trong quá trình lao động. Điều kiện làm việc tương đối khắc nghiệt và hiểm trở, bốn bề là núi cao và rừng rậm. Theo như Lee Joong Hwan- nhà địa lý học sống vào Trung kỳ triều đại Joseon, đã viết về vị trí của Jeongseon trong sách Taekriji: “Dù đã đi bộ 4 ngày trong rừng mà vẫn không trông thấy trời và biển đâu cả". Đối với những người luôn phải vất vả vỡ hoang những dốc núi hiểm trở và sống một cuộc đời nghèo khó thì Arirang chính là thú tiêu khiển tốt nhất giúp họ quên đi những lo lắng, mệt mỏi hàng ngày. Arirang được cất lên ngay khi làm, bởi thế mà nhịp điệu của Jeongseon Arirang mang đậm đặc trưng của con người và cách sống của họ ở vùng sơn cước. Ông Jin Yong Seon, Viện trưởng Viện nghiên cứu Jeongseon Arirang nói: “Những câu hát bắt nguồn từ tỉnh Gangwon chủ yếu là những giai điệu thuộc gam nguyên. Những giai điệu đó bắt nguồn từ vùng đất này, gắn bó và hòa hợp với môi trường nơi đây.”Không giống với những điệu Arirang khác, lời bài hát Jeongseon Arirang lại ở thể bị động: “Arirang Arirang Arariyo… Hãy cho tôi vượt đèo Arirang …”bởi một lẽ dù họ đã hết sức cố gắng để vượt qua những chông gai nhưng cuộc sống đầy khó khăn và ngăn cách với thế giới bên ngoài đã không cho phép họ. Vì thế, bây giờ, Arirang đối với người Jeongseon là âm nhạc, là điệu hát, nhưng trước đây nó chính là tiếng nói của họ. Arirang đã là một phần cuộc sống của những con người thời xưa.

Xem chi tiết tại trang web:  http://duhochanquochalo.com/
Đọc thêm..
Cùng với nghi lễ Jongmyo, nhạc lễ cũng sẽ được tổ chức đồng thời để mang đến niềm vui thích cho các linh hồn được mời tới nghi lễ này. Mỗi thủ tục của buổi lễ được sáng  tác âm nhạc khác  nhau như “Botaepyong”(보태평)  và  “Jeongdaeeop”(정대업).. Các bài hát đi kèm với Jerye-ak được gọi là Jongmyo Akjang. Tự học tiếng Hàn như thế nào là nhất.
Nhạc lễ Jongmyo được chính phủ Hàn Quốc chỉ định là một tài sản văn hoá tâm linh quan trọng bậc nhất. Loại nhạc này có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình Trung Hoa và được mang tới Hàn Quốc vào thời kỳ Goguryeo. Mười một phần trong  Botaepyeong và mười một phần trong Jeongdaeeop lần đầu tiên được sáng tác bởi vua Sejong vào năm 1446 để cầu nguyện cho an ninh và thịnh vượng của quốc gia. Sau này, âm nhạc đã được sửa đổi một chút và đã hoàn thiện. Đặc biệt, bài nhạc lễ Botaepyeong và Jeongdaepyeong được ca ngợi là những tác phẩm âm nhạc gần như hoàn hảo trong kết cấu của các bản tổng phổ, sử dụng hầu hết những giá trị truyền thống vốn có của thang âm Hàn Quốc.
So sánh với nghi lễ âm nhạc Baroque ở châu Âu được sinh ra trong thế kỷ XVII thì nhạc lễ Jongmyo đã có được khoảng 200 năm trước đó. Nhạc lễ Jongmyo là một tập hợp phong phú các nhạc khí, nhạc cụ dây tinh tế và sự kết hợp tinh tế của những âm sắc tạo nên một bản nhạc trang trọng và tráng lệ phù hợp với nghi thức quốc gia quan trọng của Jongmyo. Nhạc lễ được phân thành hai loại Deungga và Heonga dựa trên vị trí của buổi biểu diễn và thành phần của các nhạc cụ. Deungga là dàn nhạc được bố trí ở tầng cao hơn của Chính điện để chơi nhạc mà không có bài hát, trong khi Heonga chơi nhạc cùng với các bài hát ở tầng thấp hơn. Chính bởi vậy mà loại nhạc lễ cung đình truyền thống này được cho là sự dung hòa giữa Trời và Đất. Tìm hiểu cách làm kimchi Hàn Quốc thật ngon.
Hầu hết các nhạc cụ được làm bằng vật liệu tự nhiên như gỗ hoặc đá. Với âm sắc mềm mại, ấm áp và âm thanh vang dài nó đã làm cho âm nhạc nghi lễ thường cứng  nhắc trở nên nhẹ nhàng hơn. Các bài hát của Jeryeak, được gọi là Akjang, chứa phần lớn các câu thơ khen ngợi thành tích của các vị vua trước đó cũng như những kỳ tích quân sự hào hùng của họ.
Buổi trình diễn kỳ công của âm nhạc cung đình truyền thống cùng với các điệu múa đi kèm được tổ chức hàng năm. Các nhạc sĩ, vũ công và các học giả sẽ thực hiện nghi thức nho giáo trong sân năm lần một năm.
Điệu múa Jerye được gọi là Ilmu(múa line). Ilmu được chia làm 2 loại: Botaepyeong-ji-mu là điệu múa để ca ngợi các nhà vua trước và Jeongdaeeop-ji-mu là điệu múa để ca ngợi các thành tựu quân sự của nhà vua. Điệu múa Ilmu được thực hiện bởi một nhóm gồm tám mươi tư nữ vũ công mặc trang phục múa màu tím. Ngoài ra,
cũng có thể phân Ilmu thành hai thể loại múa Munmu và Mumu. Munmu được múa cùng với Botaepyeong-ji-ak, với Yak (4) cầm bên tay trái và Jeok (thanh bằng gỗ được trang trí với quả tua làm từ lông chim trĩ) bên tay phải. Mumu là điệu múa quân sự. Đứng bốn hàng đầu tiên là những vũ công di chuyển rất nhanh và cầm theo những thanh gươm và giáo bằng gỗ.

Nghi lễ Jongmyo mang tính nghệ thuật triết lý, bởi thông qua đó mà đạo lý được con người cảm nhận bằng trái tim hơn là bằng trí óc. Triết lý được nghệ thuật hoá một cách mềm mại và dễ đi sâu vào lòng người. Không bởi nhiều ngôn từ ý niệm, tập tục  thờ cúng tổ tiên này vẫn thể hiện nguyên vẹn chữ “Hiếu” đối với tổ tông, lòng biết ơn đến các vị tiền nhân gây dựng nên đất nước. Cùng tìm hiểu về các nhóm nhạc Hàn Quốc tại đây.



Nghi lễ và nhạc lễ Jongmyo là kiệt tác có giá trị đặc biệt do chính người dân Hàn Quốc sáng tạo nên, có sức ảnh hưởng lan tỏa trong cộng đồng và sự độc đáo về bản sắc văn hóa. Đây như một chứng nhân độc đáo cho truyền thống văn hóa dân tộc Hàn. Nghi lễ Jongmyo và nhạc lễ xứng đáng được nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Xuyên suốt lịch sử, nghi lễ và nhạc lễ Jongmyo đã trở thành biểu tượng cho dân tộc Hàn vì nó đảm bảo được trật tự và sự thống trị hiệu quả ở các triều đại. Ngày nay  tập tục thờ cúng tổ tiên của Đạo Khổng này vẫn rất phổ biến và chữ “Hiếu” vẫn là luôn là một trong những giáo lý cơ bản của Nho giáo

Nhạc lễ Jongmyo của Hàn Quốc

Cùng với nghi lễ Jongmyo, nhạc lễ cũng sẽ được tổ chức đồng thời để mang đến niềm vui thích cho các linh hồn được mời tới nghi lễ này. Mỗi thủ tục của buổi lễ được sáng  tác âm nhạc khác  nhau như “Botaepyong”(보태평)  và  “Jeongdaeeop”(정대업).. Các bài hát đi kèm với Jerye-ak được gọi là Jongmyo Akjang. Tự học tiếng Hàn như thế nào là nhất.
Nhạc lễ Jongmyo được chính phủ Hàn Quốc chỉ định là một tài sản văn hoá tâm linh quan trọng bậc nhất. Loại nhạc này có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình Trung Hoa và được mang tới Hàn Quốc vào thời kỳ Goguryeo. Mười một phần trong  Botaepyeong và mười một phần trong Jeongdaeeop lần đầu tiên được sáng tác bởi vua Sejong vào năm 1446 để cầu nguyện cho an ninh và thịnh vượng của quốc gia. Sau này, âm nhạc đã được sửa đổi một chút và đã hoàn thiện. Đặc biệt, bài nhạc lễ Botaepyeong và Jeongdaepyeong được ca ngợi là những tác phẩm âm nhạc gần như hoàn hảo trong kết cấu của các bản tổng phổ, sử dụng hầu hết những giá trị truyền thống vốn có của thang âm Hàn Quốc.
So sánh với nghi lễ âm nhạc Baroque ở châu Âu được sinh ra trong thế kỷ XVII thì nhạc lễ Jongmyo đã có được khoảng 200 năm trước đó. Nhạc lễ Jongmyo là một tập hợp phong phú các nhạc khí, nhạc cụ dây tinh tế và sự kết hợp tinh tế của những âm sắc tạo nên một bản nhạc trang trọng và tráng lệ phù hợp với nghi thức quốc gia quan trọng của Jongmyo. Nhạc lễ được phân thành hai loại Deungga và Heonga dựa trên vị trí của buổi biểu diễn và thành phần của các nhạc cụ. Deungga là dàn nhạc được bố trí ở tầng cao hơn của Chính điện để chơi nhạc mà không có bài hát, trong khi Heonga chơi nhạc cùng với các bài hát ở tầng thấp hơn. Chính bởi vậy mà loại nhạc lễ cung đình truyền thống này được cho là sự dung hòa giữa Trời và Đất. Tìm hiểu cách làm kimchi Hàn Quốc thật ngon.
Hầu hết các nhạc cụ được làm bằng vật liệu tự nhiên như gỗ hoặc đá. Với âm sắc mềm mại, ấm áp và âm thanh vang dài nó đã làm cho âm nhạc nghi lễ thường cứng  nhắc trở nên nhẹ nhàng hơn. Các bài hát của Jeryeak, được gọi là Akjang, chứa phần lớn các câu thơ khen ngợi thành tích của các vị vua trước đó cũng như những kỳ tích quân sự hào hùng của họ.
Buổi trình diễn kỳ công của âm nhạc cung đình truyền thống cùng với các điệu múa đi kèm được tổ chức hàng năm. Các nhạc sĩ, vũ công và các học giả sẽ thực hiện nghi thức nho giáo trong sân năm lần một năm.
Điệu múa Jerye được gọi là Ilmu(múa line). Ilmu được chia làm 2 loại: Botaepyeong-ji-mu là điệu múa để ca ngợi các nhà vua trước và Jeongdaeeop-ji-mu là điệu múa để ca ngợi các thành tựu quân sự của nhà vua. Điệu múa Ilmu được thực hiện bởi một nhóm gồm tám mươi tư nữ vũ công mặc trang phục múa màu tím. Ngoài ra,
cũng có thể phân Ilmu thành hai thể loại múa Munmu và Mumu. Munmu được múa cùng với Botaepyeong-ji-ak, với Yak (4) cầm bên tay trái và Jeok (thanh bằng gỗ được trang trí với quả tua làm từ lông chim trĩ) bên tay phải. Mumu là điệu múa quân sự. Đứng bốn hàng đầu tiên là những vũ công di chuyển rất nhanh và cầm theo những thanh gươm và giáo bằng gỗ.

Nghi lễ Jongmyo mang tính nghệ thuật triết lý, bởi thông qua đó mà đạo lý được con người cảm nhận bằng trái tim hơn là bằng trí óc. Triết lý được nghệ thuật hoá một cách mềm mại và dễ đi sâu vào lòng người. Không bởi nhiều ngôn từ ý niệm, tập tục  thờ cúng tổ tiên này vẫn thể hiện nguyên vẹn chữ “Hiếu” đối với tổ tông, lòng biết ơn đến các vị tiền nhân gây dựng nên đất nước. Cùng tìm hiểu về các nhóm nhạc Hàn Quốc tại đây.



Nghi lễ và nhạc lễ Jongmyo là kiệt tác có giá trị đặc biệt do chính người dân Hàn Quốc sáng tạo nên, có sức ảnh hưởng lan tỏa trong cộng đồng và sự độc đáo về bản sắc văn hóa. Đây như một chứng nhân độc đáo cho truyền thống văn hóa dân tộc Hàn. Nghi lễ Jongmyo và nhạc lễ xứng đáng được nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Xuyên suốt lịch sử, nghi lễ và nhạc lễ Jongmyo đã trở thành biểu tượng cho dân tộc Hàn vì nó đảm bảo được trật tự và sự thống trị hiệu quả ở các triều đại. Ngày nay  tập tục thờ cúng tổ tiên của Đạo Khổng này vẫn rất phổ biến và chữ “Hiếu” vẫn là luôn là một trong những giáo lý cơ bản của Nho giáo
Đọc thêm..
Các kiểu tóc khác nhau được cố định bằng nhiều loại trâm cài tóc khác nhau. Trâm cài tóc được phân làm 3 loại chính: Tteolijam một loại trâm cài tóc hình bướm hoặc hoa được cài ở mỗi bên trên mái tóc của những người phụ nữ hoàng gia đã kết hôn; Dwakikoji  không chỉ để cố định tóc mà còn được chưa làm 2 loại, loại có đầu nhọn để làm sạch các kẽ răng của lược và loại có đầu tròn hơn để ngoáy tai; Binyeo có hình dánh đơn giản là 1 thanh trụ tròn, có thể có họa tiết nổi ở một đầu hoặc chỉ là 1 cây trâm hình tre, bằng bạc được khác họa tiết. Ngoài ra, còn được  làm bằng vàng, được gắn đôi chim Bong (loài chim trong truyền thuyết của Hàn quốc).
Phụ nữ trong thời đại Jeseon đều đeo Nogeari - một loại trang sức được đeo trên áo Jeogori hoặc ở phần eo của Chima. Một Nogeari bao gồm 3 phần Ttidon, Kkeun và Sul. Nogeri được làm từ nhiều loại chất liệu khác nhau, phần dây buộc chính được làm bằng lụa, phần thân được làm theo nhiều hình dạng khác nhau. Phần thân này thường được kết hình hoa hay cánh bướm được dùng cho dân thường, quí tộc hay người giàu thường dùng ngọc, đá quí, bạc để khác thành hình rùa, quả trứng, quả táo, hoặc các hình dạng khác, họ thường đeo Nogeari được trang trí tỉ mỉ bằng đá quí cho con mình. Nogeari có nhiều loại khác nhau, dựa vào số lượng Nogeari được cố định bằng Ttidon.
Một thành phần không thể thiếu của bộ trang phục đó là Beoseon – tất và Sinbal - giầy. Tất được may bằng vải thô, chủ yếu giữ ấm cho chân và mắt cá chân, phụ thuộc vào cách khâu mà có các loại tất khác nhau có thể hoặc không có lớp đệm lót bên trong. Tìm hiểu thêm: Cách làm kimchi Hàn Quốc

Giầy không chỉ làm chức năng bảo vệ chân hay trang trí trang phục mà nó còn là một dấu hiệu phân biệt tầng lớp xã hội. Loại giày xuất hiện từ phương bắc, được gọi là Hwa và có cổ cao, loại Li và Hye xuất xứ từ phương nam, có cổ ngắn. Ngoài phân loại giày theo đối tượng sử dụng, có thể phân loại theo mục đích sử dụng: giầy dùng trong các dịp lễ, giày dùng hàng ngày, giày dùng vào mùa đông, ngày mưa. Thông thường, giày của quí tộc được làm bằng da, lụa, có màu sắc vàng, đen hoặc nâu, nhưng trong quốc tang, các học giả đeo Beakhwa màu trắng được làm bằng da, hoặc vải. Gìay đi ngày thường là cổ thấp, để lộ toàn bộ mu bàn chân. Giày nam giới, học giả, quíc tộc hay người trong quân đội thường là màu đen, làm bằng da, và có mũi cong, trên giày học giả còn được trang trí ở phần mũi, với giày của phụ nữ, có Danghye được làm bằng lụa, có thêu hoa văn trên mũi và gót giày. Hàn quốc có mùa đông khắc nghiệt nên có  các kiểu giày đi trên tuyết như Seobi Dungeimisin được làm bằng tre hay làm từ da để đi lúc trời mưa. Đọc thêm: Các nhóm nhạc Hàn Quốc

Trang phục thời Joseon của Hàn Quốc (tiếp)

Các kiểu tóc khác nhau được cố định bằng nhiều loại trâm cài tóc khác nhau. Trâm cài tóc được phân làm 3 loại chính: Tteolijam một loại trâm cài tóc hình bướm hoặc hoa được cài ở mỗi bên trên mái tóc của những người phụ nữ hoàng gia đã kết hôn; Dwakikoji  không chỉ để cố định tóc mà còn được chưa làm 2 loại, loại có đầu nhọn để làm sạch các kẽ răng của lược và loại có đầu tròn hơn để ngoáy tai; Binyeo có hình dánh đơn giản là 1 thanh trụ tròn, có thể có họa tiết nổi ở một đầu hoặc chỉ là 1 cây trâm hình tre, bằng bạc được khác họa tiết. Ngoài ra, còn được  làm bằng vàng, được gắn đôi chim Bong (loài chim trong truyền thuyết của Hàn quốc).
Phụ nữ trong thời đại Jeseon đều đeo Nogeari - một loại trang sức được đeo trên áo Jeogori hoặc ở phần eo của Chima. Một Nogeari bao gồm 3 phần Ttidon, Kkeun và Sul. Nogeri được làm từ nhiều loại chất liệu khác nhau, phần dây buộc chính được làm bằng lụa, phần thân được làm theo nhiều hình dạng khác nhau. Phần thân này thường được kết hình hoa hay cánh bướm được dùng cho dân thường, quí tộc hay người giàu thường dùng ngọc, đá quí, bạc để khác thành hình rùa, quả trứng, quả táo, hoặc các hình dạng khác, họ thường đeo Nogeari được trang trí tỉ mỉ bằng đá quí cho con mình. Nogeari có nhiều loại khác nhau, dựa vào số lượng Nogeari được cố định bằng Ttidon.
Một thành phần không thể thiếu của bộ trang phục đó là Beoseon – tất và Sinbal - giầy. Tất được may bằng vải thô, chủ yếu giữ ấm cho chân và mắt cá chân, phụ thuộc vào cách khâu mà có các loại tất khác nhau có thể hoặc không có lớp đệm lót bên trong. Tìm hiểu thêm: Cách làm kimchi Hàn Quốc

Giầy không chỉ làm chức năng bảo vệ chân hay trang trí trang phục mà nó còn là một dấu hiệu phân biệt tầng lớp xã hội. Loại giày xuất hiện từ phương bắc, được gọi là Hwa và có cổ cao, loại Li và Hye xuất xứ từ phương nam, có cổ ngắn. Ngoài phân loại giày theo đối tượng sử dụng, có thể phân loại theo mục đích sử dụng: giầy dùng trong các dịp lễ, giày dùng hàng ngày, giày dùng vào mùa đông, ngày mưa. Thông thường, giày của quí tộc được làm bằng da, lụa, có màu sắc vàng, đen hoặc nâu, nhưng trong quốc tang, các học giả đeo Beakhwa màu trắng được làm bằng da, hoặc vải. Gìay đi ngày thường là cổ thấp, để lộ toàn bộ mu bàn chân. Giày nam giới, học giả, quíc tộc hay người trong quân đội thường là màu đen, làm bằng da, và có mũi cong, trên giày học giả còn được trang trí ở phần mũi, với giày của phụ nữ, có Danghye được làm bằng lụa, có thêu hoa văn trên mũi và gót giày. Hàn quốc có mùa đông khắc nghiệt nên có  các kiểu giày đi trên tuyết như Seobi Dungeimisin được làm bằng tre hay làm từ da để đi lúc trời mưa. Đọc thêm: Các nhóm nhạc Hàn Quốc
Đọc thêm..

Trang phục thời Tam quốc
Thời Tam Quốc, tại Triều Tiên (57 trước CN-668 CN) thì kiểu áo hai phần như ngày nay mới định hình. Người ta thấy trong những bức tranh cổ trong mộ Cao Câu Ly được trang trí với hình nam nữ đều mặc trung phục gồm có: quần bó, ngắn và áo ngang eo. Kiểu trang phục cổ xưa này đến nay hầu như vẫn không hề thay đổi.
Phần áo phía trên (Yu) được mở ở phía trước và kéo dài xuống đến hông. Họ cố định trang phục bằng một chiếc thắt lưng. Phần áo phía dưới (Go) cũng dài đến bàn chân. Điểm đáng chú ý là vạt của Yu dường như ngược với cách người ta mặc Jeogori hiện nay: ở thời Tam quốc là từ phải qua trái, trong khi ngày nay là từ trái qua phải. Sự thay đổi về hướng của vạt áo này xuất hiện sau giai đoạn giữa Goguryeo.
Đến cuối thời Tam Quốc Triều Tiên, những người phụ nữ quý tộc mới bắt đầu mặc áo khoác dài tới ngang hông (được thắt lại ở eo) và váy dài phủ kín chân, còn đàn ông quý tộc thì mặc quần rộng, bo lại ở mắt cá chân bằng (Bajiburi) và áo chẽn có thắt lưng ở eo.
Cũng thời kỳ này, chiếc áo choàng bằng lụa Trung Quốc xuất hiện và chỉ dành cho hoàng tộc và các quan lại. Đó cũng là nguồn gốc của Kwanbok tức "quan phục" - trang phục của các quan lại. Áo choàng thường được mặc như trang phục thường ngày hoặc để bảo vệ cơ thể khỏi thời tiết lạnh.
Điểm đặc biệt của trang phục trong thời kì này là cả đàn ông và phụ nữ đều mặc áo khoác dài qua thắt lưng, cổ áo cao và tay áo hẹp. Viền gấu tay áo, cổ áo và dưới vạt áo được nhấn bằng một màu khác với màu áo. Các áo mặc bên trong có cổ áo và tay áo giống với Jeogori.
Ở thời đại này, các loại trang sức đã xuất hiện. Vòng cổ, khuyên tai, vòng đeo  tay
được chế tạo tinh xảo dành cho các tầng lớp trên trong xã hội.

Trang phục thời Silla thống nhất

Bị ảnh hưởng bởi trang phục truyền thống của Silla và của đời nhà Đường Trung Quốc, một kiểu trang phục mới đã xuất hiện trong thời gian này. Những người thuộc tầng lớp cao, trong đó có nhà vua, mặc trang phục tương tự như nhà Đường của Trung Quốc trong khi trang phục truyền thống từ giai đoạn Tam Hàn thì vẫn được mặc bởi dân thường.
Nếu bạn muốn xem các bài viết liên quan khác hãy xem tại trang web của du học Hàn Quốc HALO.

Trang phục thời Tam quốc và Silla của Hàn Quốc


Trang phục thời Tam quốc
Thời Tam Quốc, tại Triều Tiên (57 trước CN-668 CN) thì kiểu áo hai phần như ngày nay mới định hình. Người ta thấy trong những bức tranh cổ trong mộ Cao Câu Ly được trang trí với hình nam nữ đều mặc trung phục gồm có: quần bó, ngắn và áo ngang eo. Kiểu trang phục cổ xưa này đến nay hầu như vẫn không hề thay đổi.
Phần áo phía trên (Yu) được mở ở phía trước và kéo dài xuống đến hông. Họ cố định trang phục bằng một chiếc thắt lưng. Phần áo phía dưới (Go) cũng dài đến bàn chân. Điểm đáng chú ý là vạt của Yu dường như ngược với cách người ta mặc Jeogori hiện nay: ở thời Tam quốc là từ phải qua trái, trong khi ngày nay là từ trái qua phải. Sự thay đổi về hướng của vạt áo này xuất hiện sau giai đoạn giữa Goguryeo.
Đến cuối thời Tam Quốc Triều Tiên, những người phụ nữ quý tộc mới bắt đầu mặc áo khoác dài tới ngang hông (được thắt lại ở eo) và váy dài phủ kín chân, còn đàn ông quý tộc thì mặc quần rộng, bo lại ở mắt cá chân bằng (Bajiburi) và áo chẽn có thắt lưng ở eo.
Cũng thời kỳ này, chiếc áo choàng bằng lụa Trung Quốc xuất hiện và chỉ dành cho hoàng tộc và các quan lại. Đó cũng là nguồn gốc của Kwanbok tức "quan phục" - trang phục của các quan lại. Áo choàng thường được mặc như trang phục thường ngày hoặc để bảo vệ cơ thể khỏi thời tiết lạnh.
Điểm đặc biệt của trang phục trong thời kì này là cả đàn ông và phụ nữ đều mặc áo khoác dài qua thắt lưng, cổ áo cao và tay áo hẹp. Viền gấu tay áo, cổ áo và dưới vạt áo được nhấn bằng một màu khác với màu áo. Các áo mặc bên trong có cổ áo và tay áo giống với Jeogori.
Ở thời đại này, các loại trang sức đã xuất hiện. Vòng cổ, khuyên tai, vòng đeo  tay
được chế tạo tinh xảo dành cho các tầng lớp trên trong xã hội.

Trang phục thời Silla thống nhất

Bị ảnh hưởng bởi trang phục truyền thống của Silla và của đời nhà Đường Trung Quốc, một kiểu trang phục mới đã xuất hiện trong thời gian này. Những người thuộc tầng lớp cao, trong đó có nhà vua, mặc trang phục tương tự như nhà Đường của Trung Quốc trong khi trang phục truyền thống từ giai đoạn Tam Hàn thì vẫn được mặc bởi dân thường.
Nếu bạn muốn xem các bài viết liên quan khác hãy xem tại trang web của du học Hàn Quốc HALO.
Đọc thêm..

1.   Nguyên liệu và cách làm Kimchi
Nguyên liệu làm Kimchi rất phong phú và đa dạng. Tùy từng loại Kimchi người ta lựa chọn loại rau củ và gia vị khác nhau. Tuy nhiên trong bất kì một món Kimchi nào, bột ớt là gia vị không thể thiếu. Đây là nguyên liệu chính để tạo nên vị cay nồng độc  đáo của hầu hết các loại Kimchi. Ngoài ra một số nguyên liệu và gia vị thường xuyên dùng đến là: tỏi, gừng, hành hoa, hẹ, nước mắm…

Do Kimchi có tới hơn 200 loại nên đối với từng loại Kimchi cách làm cũng thay đổi. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi không thể giới thiệu hết cách làm của tất cả  các loại Kimchi tuy nhiên chúng tôi sẽ đề cấp tới một giai đoạn chung và quan trong nhất khi làm Kimchi, đó là giai đoạn lên men. Nhìn chung, sau khi đã hoàn tất các khâu sơ chế, trộn rau củ với các gia vị cần thiết, Kimchi sẽ trải qua khâu cuối cùng-giai đoạn lên men. Để lên men Kimchi, người ta thường cho Kimchi đã làm vào hộp và đóng kín. Ngày xưa, người Hàn Quốc thường cho Kimchi vào các chum vại rồi chôn xuống đất. Cách làm này khiến Kimchi có vị ngon độc đáo vì không có tác dụng của công nghệ khoa học. Cách làm lên men này đồng thời cũng là một phương pháp để người ta bảo quản Kimchi được lâu dài và phục vụ nhu cầu ăn uống trong suốt mùa đông lạnh giá. Ngày nay, người Hàn Quốc bảo quản bằng cách cho trực tiếp vào tủ lạnh.


Để làm được Kimchi ngon, giai đoạn lên men và phương pháp bảo quản là hai yếu tố vô cùng quan trọng mà người làm cần chú ý.

2.   Kimchi – Sức khỏe và dinh dưỡng
Tạp chí sức khỏe của Mĩ (Health Magazine) đã từng gọi Kimchi là một trong “năm thực phẩm có lợi cho sức khỏe nhất” của thế giới, với khẳng định rằng món ăn  này giàu vitamin, giúp tiêu hóa tốt và thậm chí còn có tác dụng phòng chống bệnh ung thư. Các tính chất của Kimchi liên quan đến sức khỏe xuất phát từ nhiều yếu tố. Kim chi thường được làm từ bắp cải, hành, tỏi, những loại rau này đều có lợi cho sức khỏe.   Cũng như sữa chua, kim chi còn có các men vi khuẩn sống có ích. Sau cùng, kim chi chứa nhiều ớt, loại rau này cũng đã được cho là có lợi cho sức khỏe. Ở Đông Á, đôi khi người ta cho rằng số ca bệnh SARS ở Hàn Quốc không cao là do thói quen ăn nhiều Kimchi, tuy rằng chưa ai xác lập được mối quan hệ rõ ràng giữa việc ăn Kimchi và sức đề kháng đối với SARS (2). Có một số bằng chứng cho thấy rằng Kimchi có thể được dùng để chữa bệnh cúm cho gia cầm. Các nhà khoa học tại Đại học quốc gia Seoul nói rằng họ đã cho 13 con gà bị cúm ăn chất chiết từ Kimchi và một tuần sau, 11 con bắt đầu khỏi bệnh. Hiện không có bằng chứng nào về hiệu quả trên người.


Người ta tranh cãi về các tính chất có lợi cho sức khỏe mà Kimchi có thể có và món ăn này còn bị liên quan đến một cố hiệu ứng xấu đối với sức khỏe. Trong một nghiên cứu vào tháng 6 năm 2005 về nguy cơ ung thư dạ dày, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã phát hiện rằng những người ăn nhiều Kimchi có nguy cơ ung thư cáo hơn 50% so với những người khác, học cho rằng lượng Kimchi tiêu thụ cao có thể chịu trách nhiệm cho thực tế là tỷ lệ ung thư dạ dày tại Hàn Quốc và Nhật Bản cao gấp đôi ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bột talc, một gia vị dùng trong món cơm tại hai nước này cũng được coi là một nguyên nhân có thể. Một số nghiên cứu đã liên hệ việc ăn Kimchi với nguy cơ thấp cho ung thư dạ dày, nhưng các nghiên cứu khác lại liên hệ việc ăn một số loại Kimchi (chứa củ cải) với nguy cơ ung thư cao. Chính độ muối cao trong Kimchimvà nước mắm dung làm gia vị cũng có thể là vấn đề, vì ăn nhiều muối có thể làm trầm  trọng hơn các tình trạng bệnh lý chẳng hạn như huyết áp cao.

Nguyên liệu và cách làm kimchi


1.   Nguyên liệu và cách làm Kimchi
Nguyên liệu làm Kimchi rất phong phú và đa dạng. Tùy từng loại Kimchi người ta lựa chọn loại rau củ và gia vị khác nhau. Tuy nhiên trong bất kì một món Kimchi nào, bột ớt là gia vị không thể thiếu. Đây là nguyên liệu chính để tạo nên vị cay nồng độc  đáo của hầu hết các loại Kimchi. Ngoài ra một số nguyên liệu và gia vị thường xuyên dùng đến là: tỏi, gừng, hành hoa, hẹ, nước mắm…

Do Kimchi có tới hơn 200 loại nên đối với từng loại Kimchi cách làm cũng thay đổi. Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi không thể giới thiệu hết cách làm của tất cả  các loại Kimchi tuy nhiên chúng tôi sẽ đề cấp tới một giai đoạn chung và quan trong nhất khi làm Kimchi, đó là giai đoạn lên men. Nhìn chung, sau khi đã hoàn tất các khâu sơ chế, trộn rau củ với các gia vị cần thiết, Kimchi sẽ trải qua khâu cuối cùng-giai đoạn lên men. Để lên men Kimchi, người ta thường cho Kimchi đã làm vào hộp và đóng kín. Ngày xưa, người Hàn Quốc thường cho Kimchi vào các chum vại rồi chôn xuống đất. Cách làm này khiến Kimchi có vị ngon độc đáo vì không có tác dụng của công nghệ khoa học. Cách làm lên men này đồng thời cũng là một phương pháp để người ta bảo quản Kimchi được lâu dài và phục vụ nhu cầu ăn uống trong suốt mùa đông lạnh giá. Ngày nay, người Hàn Quốc bảo quản bằng cách cho trực tiếp vào tủ lạnh.


Để làm được Kimchi ngon, giai đoạn lên men và phương pháp bảo quản là hai yếu tố vô cùng quan trọng mà người làm cần chú ý.

2.   Kimchi – Sức khỏe và dinh dưỡng
Tạp chí sức khỏe của Mĩ (Health Magazine) đã từng gọi Kimchi là một trong “năm thực phẩm có lợi cho sức khỏe nhất” của thế giới, với khẳng định rằng món ăn  này giàu vitamin, giúp tiêu hóa tốt và thậm chí còn có tác dụng phòng chống bệnh ung thư. Các tính chất của Kimchi liên quan đến sức khỏe xuất phát từ nhiều yếu tố. Kim chi thường được làm từ bắp cải, hành, tỏi, những loại rau này đều có lợi cho sức khỏe.   Cũng như sữa chua, kim chi còn có các men vi khuẩn sống có ích. Sau cùng, kim chi chứa nhiều ớt, loại rau này cũng đã được cho là có lợi cho sức khỏe. Ở Đông Á, đôi khi người ta cho rằng số ca bệnh SARS ở Hàn Quốc không cao là do thói quen ăn nhiều Kimchi, tuy rằng chưa ai xác lập được mối quan hệ rõ ràng giữa việc ăn Kimchi và sức đề kháng đối với SARS (2). Có một số bằng chứng cho thấy rằng Kimchi có thể được dùng để chữa bệnh cúm cho gia cầm. Các nhà khoa học tại Đại học quốc gia Seoul nói rằng họ đã cho 13 con gà bị cúm ăn chất chiết từ Kimchi và một tuần sau, 11 con bắt đầu khỏi bệnh. Hiện không có bằng chứng nào về hiệu quả trên người.


Người ta tranh cãi về các tính chất có lợi cho sức khỏe mà Kimchi có thể có và món ăn này còn bị liên quan đến một cố hiệu ứng xấu đối với sức khỏe. Trong một nghiên cứu vào tháng 6 năm 2005 về nguy cơ ung thư dạ dày, các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã phát hiện rằng những người ăn nhiều Kimchi có nguy cơ ung thư cáo hơn 50% so với những người khác, học cho rằng lượng Kimchi tiêu thụ cao có thể chịu trách nhiệm cho thực tế là tỷ lệ ung thư dạ dày tại Hàn Quốc và Nhật Bản cao gấp đôi ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bột talc, một gia vị dùng trong món cơm tại hai nước này cũng được coi là một nguyên nhân có thể. Một số nghiên cứu đã liên hệ việc ăn Kimchi với nguy cơ thấp cho ung thư dạ dày, nhưng các nghiên cứu khác lại liên hệ việc ăn một số loại Kimchi (chứa củ cải) với nguy cơ ung thư cao. Chính độ muối cao trong Kimchimvà nước mắm dung làm gia vị cũng có thể là vấn đề, vì ăn nhiều muối có thể làm trầm  trọng hơn các tình trạng bệnh lý chẳng hạn như huyết áp cao.
Đọc thêm..

Hàn Quốc là đất nước có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi gây khó khăn cho việc trồng trọt. Ở Hàn Quốc một năm chỉ làm một vụ chính, những nông phẩm thu hoạch được trong vụ này sẽ dùng cho một năm. Trung thu là thời điểm người nông dân thu hoạch những nông phẩm. Do đó, người ta rất coi trọng ngày tết trung thu. Trung thu chính là dịp để gia đình, họ hàng tề tựu và cùng thưởng thức những sản phẩm mà mình đã vất vả làm ra. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế theo hướng công nghiệp cuộc sống bận rộn người Hàn Quốc sẽ tổ chức Trung Thu như thế nào?
Người Hàn Quốc cơ bản vẫn giữ được gìn giữ được Trung thu với hai ý nghĩa truyền thống là để tạ ơn tổ tiên đã ban cho một vụ mùa bội thu với những sản vật phong phú và là dịp để các thành viên trong gia đình sum họp. Vào dịp Trung thu, những  người sống ở thành phố đều sắp xếp công việc để nhanh chóng trở về quê tụ họp với gia đình. Một điều có thể thấy rõ là tất cả các con đường quốc lộ của Hàn Quốc đều bị tắc nghẽn hàng giờ mặc dù hệ thống giao thông của Hàn Quốc rất phát.
Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, cuộc sống của người dân chốn thị thành ngày càng trở nên bận rộn hơn kéo theo đó là sự gia tăng của hình thức “chủ nghĩa cá nhân” đồng thời cũng làm cho hình thức tổ chức trung thu có nhiều thay đổi. Cuộc sống ở thành phố ngày trở nên bận rộn và thời gian dành cho việc chuẩn bị cho các ngày lễ Tết ngày càng eo hẹp đi, xu hướng chung của người Hàn Quốc là mua đồ bán sẵn tại siêu thị. Và ở thành phố thì cũng chỉ còn một số gia đình vẫn giữ được truyền thống làm bánh SongPyon trong ngày này. Người ta cũng về quê để thăm ông bà bố mẹ nhưng cũng nhanh chóng rời lên thành phố để làm tiếp công việc hàng ngày còn đang dang dở. Có thể gọi đó là xu hướng đang diễn ra một cách mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia ở Châu Á.

Năm nay, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động mạnh mẽ đến các quốc gia, trong đó có Hàn Quốc. Khẩu hiệu của mùa Trung Thu năm nay là "hãy cùng chia sẻ" bởi người dân ở đây cũng có câu "niềm vui được nhân lên khi có người chung vui và nỗi buồn cũng vợi đi khi được sẻ chia". Thông qua dịp này chính phủ thể hiện sự quan tâm đến người dân bằng những hỗ trợ về phương tiện đi lại và tặng quà cho những gia đình nghèo có hoàn cảnh khó khăn.

Sưu tầm: Du học Hàn Quốc HALO

Ý nghĩa của Chuseok và Chuseok hiện đại ngày nay


Hàn Quốc là đất nước có khí hậu ôn đới và địa hình chủ yếu là đồi núi gây khó khăn cho việc trồng trọt. Ở Hàn Quốc một năm chỉ làm một vụ chính, những nông phẩm thu hoạch được trong vụ này sẽ dùng cho một năm. Trung thu là thời điểm người nông dân thu hoạch những nông phẩm. Do đó, người ta rất coi trọng ngày tết trung thu. Trung thu chính là dịp để gia đình, họ hàng tề tựu và cùng thưởng thức những sản phẩm mà mình đã vất vả làm ra. Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế theo hướng công nghiệp cuộc sống bận rộn người Hàn Quốc sẽ tổ chức Trung Thu như thế nào?
Người Hàn Quốc cơ bản vẫn giữ được gìn giữ được Trung thu với hai ý nghĩa truyền thống là để tạ ơn tổ tiên đã ban cho một vụ mùa bội thu với những sản vật phong phú và là dịp để các thành viên trong gia đình sum họp. Vào dịp Trung thu, những  người sống ở thành phố đều sắp xếp công việc để nhanh chóng trở về quê tụ họp với gia đình. Một điều có thể thấy rõ là tất cả các con đường quốc lộ của Hàn Quốc đều bị tắc nghẽn hàng giờ mặc dù hệ thống giao thông của Hàn Quốc rất phát.
Tuy nhiên, ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, cuộc sống của người dân chốn thị thành ngày càng trở nên bận rộn hơn kéo theo đó là sự gia tăng của hình thức “chủ nghĩa cá nhân” đồng thời cũng làm cho hình thức tổ chức trung thu có nhiều thay đổi. Cuộc sống ở thành phố ngày trở nên bận rộn và thời gian dành cho việc chuẩn bị cho các ngày lễ Tết ngày càng eo hẹp đi, xu hướng chung của người Hàn Quốc là mua đồ bán sẵn tại siêu thị. Và ở thành phố thì cũng chỉ còn một số gia đình vẫn giữ được truyền thống làm bánh SongPyon trong ngày này. Người ta cũng về quê để thăm ông bà bố mẹ nhưng cũng nhanh chóng rời lên thành phố để làm tiếp công việc hàng ngày còn đang dang dở. Có thể gọi đó là xu hướng đang diễn ra một cách mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia ở Châu Á.

Năm nay, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu tác động mạnh mẽ đến các quốc gia, trong đó có Hàn Quốc. Khẩu hiệu của mùa Trung Thu năm nay là "hãy cùng chia sẻ" bởi người dân ở đây cũng có câu "niềm vui được nhân lên khi có người chung vui và nỗi buồn cũng vợi đi khi được sẻ chia". Thông qua dịp này chính phủ thể hiện sự quan tâm đến người dân bằng những hỗ trợ về phương tiện đi lại và tặng quà cho những gia đình nghèo có hoàn cảnh khó khăn.

Sưu tầm: Du học Hàn Quốc HALO
Đọc thêm..
Giới thiệu
Ở Hàn Quốc bò là một loài động vật thân thuộc và vô cùng quan trọng, cần thiết cho công việc đồng áng của người nông dân tương tự như trâu ở Việt Nam. Chính vì thế mà từ lâu bò đã trở thành một biểu tượng của sức mạnh đối với người Hàn Quốc. Không chỉ sử dụng bò như một công cụ lao động, một loại lương thực cao cấp mà bò còn xuất hiện trong các trò chơi truyền thống của người Hàn Quốc. Dù khi làm việc hay khi giải trí cũng đều có sự xuất hiện của loài vật này. Tiêu biểu nhất là trò 소싸움(sossaum) đấu bò đã có từ rất lâu đời, khoảng 1000 năm trước đây. Về nguồn gốc rõ ràng của việc ra đời trò chơi này vẫn đang là một dấu hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu lịch sử.
Nội dung
Sossaum là một trò chơi truyền thống mà mỗi làng sẽ chọn ra một con bò khỏe nhất rồi mang đi tranh đấu với các bò làng khác. Trước khi trận đấu diễn ra người ta có thể cho bò uống rượu sochu(소주) nhằm tăng hưng phấn, giúp con bò chiến đấu mãnh liệt và hùng dũng hơn. Ở nơi thi đấu, họ trải cát, chăng dây vòng quanh.
Người ta chia thi đấu theo trọng lượng:

·                Hạng A: trên 741kg
·                Hạng B: 651kg -> 740kg
·                Hạng C: dưới 650kg

Khi bắt đầu họ che giữa 2 con bò một mảnh vải. Khi phất mảnh vải lên, trận đấu bắt đầu. Chúng dùng sừng húc đối thủ, dùng sức đẩy đối thủ. Con nào bị gục đầu gối xuống trước sẽ bị coi là thua. Tuy nhiên cũng có trường hợp làng có bò thua rồi có thể mang con bò khác đến để thách đấu tiếp. Làng thắng tuy không được phần thưởng gì đặc biệt nhưng sẽ được làng thua gọi là “형님 마을”_ làng anh. Ở thời xưa người ta coi trọng danh dự, thanh danh hơn là những vật chất. Nếu như thắng thì họ sẽ chuẩn bị đội ca nhạc làng xóm, người tá điền cưỡi bò đi khắp làng như một sự biểu dương cho chiến thắng rồi sau đó đến nhà chủ của con bò, dùng con bò thắng còn sống để cúng tế thần linh và sau sẽ để lại để tiếp tục làm việc, sinh ra những con bò khỏe sau này. Con bò thua sẽ được giết thịt để ăn. Sau khi cũng tế xong, họ cùng nhau ăn uống, nhảy múa, ca hát vui vẻ.

Ý nghĩa
Đấu bò không chỉ đơn thuần là trò chơi giải trí trong dịp lễ hội mà việc đấu bò còn nhằm cúng tế thần nông, cảm tạ thần đã cho một vụ mùa bội thu, cuộc sống no đủ cũng như cầu mong cho cuộc sống tiếp theo cũng được giàu sang, hạnh phúc.
Với sự ủng hộ của chính phủ thì kể từ năm 1998, sossaum có một sự hồi sinh mạnh mẽ ở vùng Cheongdo, tỉnh Bắc Gyeuongsang, nơi hàng năm cứ mỗi dịp lễ hội sosaum về lại quy tụ trên 150 con trâu, thu hút trên 300000 khách du lịch.
Tìm hiểu thêm: Du học Hàn Quốc giá rẻ
So sánh
Đối với người Hàn Quốc bò là loài vật biểu tượng cho sức mạnh và rất gần gũi với người nông dân. Đối với Việt Nam thì đó lại là con trâu. Hình ảnh con trâu đi trước cái cầy đi sau đã trở thành hình ảnh rất đỗi quen thuộc của làng quê Việt Nam. Chính vì ở Hàn Quốc có chọi bò thì ở Việt Nam có chọi bò. Nổi tiếng là chọi trâu Đồ Sơn.

Sau khi thi đấu xong thì mọi người trong làng mang con trâu thắng ra tế, cùng nhau nhảy múa ca hát giống người Hàn Quốc. Tuy nhiên con trâu được nhất sẽ không bị giết mà chỉ dùng tế thần, sau đó vẫn được tiếp tục sống và chỉ giết con thua. Khác với Hàn Quốc, ở Việt Nam, các con trâu tham gia chọi, dù thắng, dù thua, đều phải giết thịt. Lấy một bát tiết cùng một ít lông của trâu (mao huyết) để cúng thần, sau đó đổ xuống ao để tiễn thần. Mọi người cùng ăn chúc phúc. Truyền rằng, sau khi ăn thịt con trâu thắng cuộc, mọi người sẽ gặp được may mắn, đặc biệt là những người dân đi biển.

Nếu bạn muốn du học tại Hàn Quốc thì hãy liên hệ ngay với HALO chúng tôi qua trang web duhochanquochalo.com

Trò chơi chọi bò 소싸움 (sossaum) ở Hàn Quốc

Giới thiệu
Ở Hàn Quốc bò là một loài động vật thân thuộc và vô cùng quan trọng, cần thiết cho công việc đồng áng của người nông dân tương tự như trâu ở Việt Nam. Chính vì thế mà từ lâu bò đã trở thành một biểu tượng của sức mạnh đối với người Hàn Quốc. Không chỉ sử dụng bò như một công cụ lao động, một loại lương thực cao cấp mà bò còn xuất hiện trong các trò chơi truyền thống của người Hàn Quốc. Dù khi làm việc hay khi giải trí cũng đều có sự xuất hiện của loài vật này. Tiêu biểu nhất là trò 소싸움(sossaum) đấu bò đã có từ rất lâu đời, khoảng 1000 năm trước đây. Về nguồn gốc rõ ràng của việc ra đời trò chơi này vẫn đang là một dấu hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu lịch sử.
Nội dung
Sossaum là một trò chơi truyền thống mà mỗi làng sẽ chọn ra một con bò khỏe nhất rồi mang đi tranh đấu với các bò làng khác. Trước khi trận đấu diễn ra người ta có thể cho bò uống rượu sochu(소주) nhằm tăng hưng phấn, giúp con bò chiến đấu mãnh liệt và hùng dũng hơn. Ở nơi thi đấu, họ trải cát, chăng dây vòng quanh.
Người ta chia thi đấu theo trọng lượng:

·                Hạng A: trên 741kg
·                Hạng B: 651kg -> 740kg
·                Hạng C: dưới 650kg

Khi bắt đầu họ che giữa 2 con bò một mảnh vải. Khi phất mảnh vải lên, trận đấu bắt đầu. Chúng dùng sừng húc đối thủ, dùng sức đẩy đối thủ. Con nào bị gục đầu gối xuống trước sẽ bị coi là thua. Tuy nhiên cũng có trường hợp làng có bò thua rồi có thể mang con bò khác đến để thách đấu tiếp. Làng thắng tuy không được phần thưởng gì đặc biệt nhưng sẽ được làng thua gọi là “형님 마을”_ làng anh. Ở thời xưa người ta coi trọng danh dự, thanh danh hơn là những vật chất. Nếu như thắng thì họ sẽ chuẩn bị đội ca nhạc làng xóm, người tá điền cưỡi bò đi khắp làng như một sự biểu dương cho chiến thắng rồi sau đó đến nhà chủ của con bò, dùng con bò thắng còn sống để cúng tế thần linh và sau sẽ để lại để tiếp tục làm việc, sinh ra những con bò khỏe sau này. Con bò thua sẽ được giết thịt để ăn. Sau khi cũng tế xong, họ cùng nhau ăn uống, nhảy múa, ca hát vui vẻ.

Ý nghĩa
Đấu bò không chỉ đơn thuần là trò chơi giải trí trong dịp lễ hội mà việc đấu bò còn nhằm cúng tế thần nông, cảm tạ thần đã cho một vụ mùa bội thu, cuộc sống no đủ cũng như cầu mong cho cuộc sống tiếp theo cũng được giàu sang, hạnh phúc.
Với sự ủng hộ của chính phủ thì kể từ năm 1998, sossaum có một sự hồi sinh mạnh mẽ ở vùng Cheongdo, tỉnh Bắc Gyeuongsang, nơi hàng năm cứ mỗi dịp lễ hội sosaum về lại quy tụ trên 150 con trâu, thu hút trên 300000 khách du lịch.
Tìm hiểu thêm: Du học Hàn Quốc giá rẻ
So sánh
Đối với người Hàn Quốc bò là loài vật biểu tượng cho sức mạnh và rất gần gũi với người nông dân. Đối với Việt Nam thì đó lại là con trâu. Hình ảnh con trâu đi trước cái cầy đi sau đã trở thành hình ảnh rất đỗi quen thuộc của làng quê Việt Nam. Chính vì ở Hàn Quốc có chọi bò thì ở Việt Nam có chọi bò. Nổi tiếng là chọi trâu Đồ Sơn.

Sau khi thi đấu xong thì mọi người trong làng mang con trâu thắng ra tế, cùng nhau nhảy múa ca hát giống người Hàn Quốc. Tuy nhiên con trâu được nhất sẽ không bị giết mà chỉ dùng tế thần, sau đó vẫn được tiếp tục sống và chỉ giết con thua. Khác với Hàn Quốc, ở Việt Nam, các con trâu tham gia chọi, dù thắng, dù thua, đều phải giết thịt. Lấy một bát tiết cùng một ít lông của trâu (mao huyết) để cúng thần, sau đó đổ xuống ao để tiễn thần. Mọi người cùng ăn chúc phúc. Truyền rằng, sau khi ăn thịt con trâu thắng cuộc, mọi người sẽ gặp được may mắn, đặc biệt là những người dân đi biển.

Nếu bạn muốn du học tại Hàn Quốc thì hãy liên hệ ngay với HALO chúng tôi qua trang web duhochanquochalo.com
Đọc thêm..

Giới thiệu
Là tập tục đốt lửa trại ở các ờ ruộng hay bờ cỏ vào rằm tháng giêng để diệt chuột hoặc loại bỏ các loại côn trùng trên ruộng. Trò chơi này còn có ở cả Trung Quốc và  châu Âu.
Nội dung
Vào buổi tối ngày thứ mười bốn của tháng giêng nếu đốt lửa trên ruộng thì trứng của các loại sâu, côn trùng có hại cũng như các loại cỏ dại sẽ bị đối đi và sẽ giúp ích cho mùa màng, cỏ dại bị đốt đi lại trở thành phân bón cho đất vừa giúp cho ruộng mới mọc len, vừa bảo vệ được đồng ruộng. Hơn nữa còn ngăn chặn được sự lây lan các bện  truyền nhiễm do chuột đồng gây ra.
Tìm hiểu thêm: Du học Hàn Quốc giá rẻ

Thay vì chỉ đốt lửa đơn thuẩn mọi người đã biến đổi thành hình thức trò chơi. Các bác nông dân hay thanh niên của làng trên làng dưới sau khi phân đội cầm đuốc thi nhau chạy xem ai đốt được khỏng ruộng lớn hơn hoặc cố làm tắt lửa của đối phương. Mọi người tin rằng bên nào chiến thắng thì có thể tránh được tai ương và sẽ có một mùa màng bội thu


Ý nghĩa
Đốt lửa chuột không chỉ là một phong tục nông nghiệp với ý nghĩa đơn thuần là
để phòng thú dữ và công trùng mà nó còn biểu hiện quan niệm về sự mô phỏng sự kì diệu của các loại cây nông nghiệp và biểu tượng cho tài sản ngày một dồi dào. T rong đêm tối những ngọn lửa cháy cũng tạo nên một cảnh tượng rất rực rỡ. Ngắm nhìn những ngọn lửa cháy mà quên đi cái giá rét lạnh lẽo của mùa thu và cùng mong đợi một năm mới, mùa xuân mới đang tới.

Nguồn: Du học Hàn Quốc HALO

Trò đốt lửa chuột ở Hàn Quốc -쥐불놀이


Giới thiệu
Là tập tục đốt lửa trại ở các ờ ruộng hay bờ cỏ vào rằm tháng giêng để diệt chuột hoặc loại bỏ các loại côn trùng trên ruộng. Trò chơi này còn có ở cả Trung Quốc và  châu Âu.
Nội dung
Vào buổi tối ngày thứ mười bốn của tháng giêng nếu đốt lửa trên ruộng thì trứng của các loại sâu, côn trùng có hại cũng như các loại cỏ dại sẽ bị đối đi và sẽ giúp ích cho mùa màng, cỏ dại bị đốt đi lại trở thành phân bón cho đất vừa giúp cho ruộng mới mọc len, vừa bảo vệ được đồng ruộng. Hơn nữa còn ngăn chặn được sự lây lan các bện  truyền nhiễm do chuột đồng gây ra.
Tìm hiểu thêm: Du học Hàn Quốc giá rẻ

Thay vì chỉ đốt lửa đơn thuẩn mọi người đã biến đổi thành hình thức trò chơi. Các bác nông dân hay thanh niên của làng trên làng dưới sau khi phân đội cầm đuốc thi nhau chạy xem ai đốt được khỏng ruộng lớn hơn hoặc cố làm tắt lửa của đối phương. Mọi người tin rằng bên nào chiến thắng thì có thể tránh được tai ương và sẽ có một mùa màng bội thu


Ý nghĩa
Đốt lửa chuột không chỉ là một phong tục nông nghiệp với ý nghĩa đơn thuần là
để phòng thú dữ và công trùng mà nó còn biểu hiện quan niệm về sự mô phỏng sự kì diệu của các loại cây nông nghiệp và biểu tượng cho tài sản ngày một dồi dào. T rong đêm tối những ngọn lửa cháy cũng tạo nên một cảnh tượng rất rực rỡ. Ngắm nhìn những ngọn lửa cháy mà quên đi cái giá rét lạnh lẽo của mùa thu và cùng mong đợi một năm mới, mùa xuân mới đang tới.

Nguồn: Du học Hàn Quốc HALO
Đọc thêm..